Tại sao cần sa lại bị cấm tại Mĩ? Sự thật về lệnh cấm cần sa năm 1937 (USA)

(Ai? Nhóm người nào? Tại sao? Họ đã làm thế nào?)

Bài này được sưu tập từ cuộc thi viết về chủ đề: Tại sao cần sa lại bị cấm trên fan page Việt Growers

12565376_1547287085561883_3553906329757588893_n

 

Bài số 1: – Nah gửi

Mọi người ai tinh ý thì nhận ra rằng những công ty dược phẩm, những nhà tù, cục phòng chống ma túy, bệnh viện, công ty thuốc lá, công ty rượu bia, những ông trùm cocain heroin… đều sẽ bị ảnh hưởng nặng nề về kinh tế nếu như cần sa được hợp pháp hóa ở diện rộng.

Chưa kể là cây cần sa (hoặc họ hàng gần của nó, là gai dầu) còn có thể được dùng để sản xuất thức ăn, giấy, nhiên liệu.

Hạt gai dầu (hemp seed) là 1 trong những thực phẩm cao cấp và giàu dinh dưỡng nhất thế giới.
Một hecta cần sa hoặc gai dầu, trồng chỉ trong một mùa, có thể sản xuất ra số lượng giấy nhiều bằng 4 hecta rừng.

Cần sa và gai dầu còn có thể được dùng để tạo ra nhựa plastic, làm xe hơi (chất liệu này tốt hơn cả thép và đã từng được Ford sử dụng để tạo ra những chiếc xe hữu cơ), làm nhiên liệu (tốt ngang ngửa dầu hỏa).
Vì nó quá vĩ đại và lại là hoàn toàn từ thiên nhiên, và quan trọng hơn hết là KHÔNG THỂ ĐĂNG KÝ ĐỘC QUYỀN cây cỏ thiên nhiên, nên những ông trùm tư bản Mĩ như Carnegie, Rockefeller, Morgan, Vanderbilt, Ford, và bè lũ của mình… đã dùng tiền vận động hành lang cho quan chức chính phủ Mĩ và biến gai dầu và cần sa thành bất hợp pháp.

Bài số 2: – Nông Dân Lương Thiện gửi

Nguyên nhân cây cần sa bị cấm tại Mĩ

+ Cây cần sa không gây hại cho cơ thể con người hay trí não nếu sử dụng đúng mức. Cần sa không đem lại các mối đe dọa cho công chúng nói chung. Bên cạnh đó, cần sa mang đến rất nhiều mối nguy hiểm cho các công ty dầu lửa, rượu, nghành công thuốc lá và một số lượng lớn các tập đoàn hóa chất, các doanh nghiệp lớn khác nhau, do đó các tỷ phú Mĩ nhận thấy mối đe dọa từ lợi ích to lớn của việc hợp pháp hóa cần sa đem lại.

+ Người ta ước tính rằng có khoảng 25.000 cây gai dầu được sử dụng cho mục đích sản suất thực phẩm, sơn, nhiên liệu, quần áo và vật liệu xây dựng. Thậm chí có những sợi gai dầu trong túi trà Red Rose và Lipton của bạn. Và một số xe được sản xuất ngày nay chứa nguyên liệu là cây gai dầu. Các di sản lâu đời nhất trong ngành công nghiệp cần sa của con người là một mảnh vải gai dầu (canvas) được tìm thấy ở vùng Lưỡng Hà cổ đại có niên đại khoảng 8000 trước công nguyên Các mảnh cổ xưa nhất của cuộn giấy đã được hơn 2000 năm trước ở Trung Quốc cũng được làm từ sợi cây gai dầu. Trong năm 2500 trước công nguyên các Pharaoh sử dụng cây gai dầu trong việc xây dựng các kim tự tháp lớn.

+ Mỗi 3,6 giây trên thế giới sẽ có một người chết đói, và hạt giống câu gai dầu là giải pháp dinh dưỡng và kinh tế nhất để chấm dứt nạn đói này. Với tỉ lệ 80% chất béo tốt cùng với protein và 8 acid amin, chưa kể tới nguồn chất xơ, cây gai dầu thực sự là nguồn thức ăn cân bằng và hoàn hảo để đảm bảo sức khỏe tối ưu.

+ Thiên nhiên đã cung cấp cho nhân loại các chất dinh dưỡng cần thiết để phục hồi và duy trì sức khỏe tối ưu trong một hạt năng lượng đó là gluten, cholesterol và đường. Tinh khiết, tự nhiên, hạt cây gai dầu – nguồn thực phẩm tuyệt vời nhất trên thế giới có chứa các proteins, các chất béo thiết yếu, các vitamines và enzim, omega 3 và omega 6…

+ Các động cơ diesel đầu tiên được thiết kế để chạy trên các loại dầu thực vật, một trong số đó là dầu cây gai dầu. Trong những năm 1930 Henry Ford sản xuất xe ô tô gồm 70 % sợi gai dầu. Năm 2001, “Hemp car” vòng quanh lục địa Bắc Mỹ chạy bằng dầu từ cây gai dầu.

+ Các bức tranh của Rembrandt (1606- 1669), Vincent Van Gogh (1853-1890) và Thomas Gainsborough (1727- 1788) đã được sơn chủ yếu vào vải cây gai dầu, hơn 50% của tất cả các loại thuốc trừ sâu hóa học phun được sử dụng trong việc trồng bông (cotton). Cây gai dầu mạnh gấp 8 lần so với bông và nhiều hơn nữa không khí thấm. Cây gai dầu có thể phát triển mạnh mẽ (lên đến 16 feet) trong 100 ngày mà không cần sử dụng thuốc trừ sâu độc hại và thuốc diệt cỏ … => nó an toàn cho làn da của bạn và môi trường.

Một mẫu của cây gai dầu có thể sản xuất nhiều chất xơ thô như 4.1 hecta cây. Nghiền gai dầu cho giấy sẽ tạo ra một loại giấy mạnh kéo dài vô cùng lâu dài và không bị ngả màu theo thời gian. Ngoài ra, sử dụng cây gai dầu như một nguồn liệu giấy sẽ loại bỏ sự cần thiết phải chặt rừng, cây gai dầu góp phần kiểm soát khí hậu và làm sạch không khí chúng ta hít thở.

+ Tất cả sách giáo khoa được làm từ cây gai dầu hoặc giấy lanh cho đến những năm 1880. Jack Frazier,1974.

+ Từ năm 1631 đến đầu năm 1800 cây gai dầu được hợp pháp hóa và bị đánh thuế. Theo báo LA Times, ngày 12 tháng tám năm 1981.

+ Từ chối trồng cây gai dầu trong thế kỷ 17 và 18 sẽ bị coi là chống đối pháp luật.

+ Trong khoảng năm 1763-1769.Bạn có thể bị bỏ tù ở Virginia nếu từ chối để trồng cây gai dầu; Hemp in Colonial Virginia, G. M. Herdon.

+ George Washington, Thomas Jefferson và người sáng lập khác đã phát triển cây gai dầu. Washington và Jefferson Diaries. Jefferson lậu hạt cây gai dầu từ Trung Quốc sang Pháp rồi đến Mỹ.

+ Benjamin Franklin sở hữu một trong những nhà máy giấy đầu tiên ở Mỹ và nó được chế biến cây gai dầu.

+ Hàng ngàn năm nay, 90% các cánh buồm và dây thừng tất cả các tàu được làm từ cây gai dầu. Từ ‘vải’ người Hà Lan gọi là cần sa  – Từ điển thế giới Webster.

+ 80% của tất cả các hàng dệt, vải, quần áo, vải, màn cửa, khăn trải giường… đã được làm từ cây gai dầu cho đến những năm 1820 với sự ra đời của gin bông.

+ Các quyển Kinh Thánh đầu tiên, bản đồ, biểu đồ, cờ Betsy Ross, bản thảo đầu tiên của Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp đã được thực hiện từ cây gai dầu – Archives Chính phủ Hoa Kỳ.

+ Các cây trồng đầu tiên được trồng ở nhiều tiểu bang là cây gai dầu. 1850 là một năm đỉnh cao cho Kentucky, sản xuất 40.000 tấn. gai dầu là cây công nghiệp lớn nhất tính đến thế kỷ thứ 20 – State Archives.

+ Cũng như hầu hết các bức tranh vải sớm được chủ yếu được vẽ trên vải gai dầu. Rembrants, Gainsboroughs, Van Goghs.

+ Năm 1916, Chính phủ Mỹ dự đoán rằng đến năm 1940 tất cả các loại giấy sẽ được làm từ cây gai dầu. Sở Nông nghiệp Department of Agriculture.

+ Chất lượng sơn và vecni được làm từ dầu hạt cây gai dầu cho đến năm 1937. 58.000 tấn hạt giống cây gai dầu đã được sử dụng tại Mỹ cho các sản phẩm sơn vào năm 1935; Sherman Williams chủ công ty sơn trần thuật trước Quốc hội chống lại Đạo Luật Thuế Cần Sa 1937.

+ Mẫu xe Model-T. Henry Ford đã được thiết để chạy trên nặng lượng dầu cây gai và. Chiếc xe ‘trồng từ đất’ có tấm nhựa cây gai dầu có độ cứng gấp 10 lần thép Popular Mechanics, năm 1941.

+ Hemp gọi là ‘Billion Dollar Crop.’ Đây là lần đầu tiên một loại cây trồng có tiềm năng kinh doanh vượt quá một tỷ đô la. Popular Mechanics, Tháng Hai, 1938.

+ Andrew Mellon đã trở thành thư ký của Kho bạc Hoover và là đầu tư chính Dupont. Ông bổ nhiệm cháu rể tương lai của mình, Harry J. Anslinger, làm người đứng đầu Văn phòng Liên bang về ma tuý và các loại thuốc nguy hiểm.

+ Các cuộc họp bí mật đã được tổ chức bởi các ông trùm tài chính. Cây cần sa được tuyên bố gây nguy hiểm nguy hiểm và mối đe dọa cho các doanh nghiệp tỷ đô la của họ. Đối với các triều đại của họ vẫn còn nguyên vẹn, cây gai dầu cần phải loại bỏ.

Năm 1933 Harry J. Anslinger được giao quyền kiểm soát Văn phòng Liên bang phòng chống ma túy (ông vẫn còn tại vị cho tới năm 1962).

Kết luận: Từ những lập luận và tài liệu trên chúng ta có thể hiểu rằng lý do chính là bởi vì nó quá tốt, tốt đến mức không thể tin được: cần sa có thể thay thế hoàn toàn khá nhiều nghành công nghiệp hiện đại quan trọng bậc nhất như: Công nghiệp giấy, Công nghiệp thực phẩm, Công nghiệp năng lượng, Công nghiệp thuốc tây… Họ sợ người dân thức tỉnh, sợ người dân hết bệnh tật, sợ mất nguồn tiền thuế từ các ngành công nghiệp có đóng góp thuế nhiều cho nhà nước, sợ người dân sống hạnh phúc. Chẳng có lý do gì đễ gọi cần sa là ma túy! Trăm lần không! Ngàn lần không! Cần sa ngược lại là một thảo dược, thần dược được chào đón ở thế giới của chúng ta. Ủng hộ hợp pháp hóa cần sa sẽ giúp hàng triệu bệnh nhân có quyền được chữa trị bệnh tật bằng thảo dược rẻ tiền, hiệu quả, an toàn, có thể chiết xuất tại nhà. Ủng hộ hợp pháp hóa cần sa sẽ mang lại lợi ích cho quốc gia. Ủng hộ hợp pháp hóa cần sa sẽ giảm được tỉ lệ phạm tội, giảm được tỉ lệ nghiện bia/rượu/ma túy… Câu này nghe quen quen phải không?

Bài số 3: Lê Trung Chánh gửi

Nhiều người cho rằng cần sa là một chất cấm do những quá trình liên quan đến khoa học – kĩ thuật, còn các ngành y tế và bộ máy chính phủ là những người đang làm công việc cao cả nhằm bảo vệ người dân khỏi thứ chất “độc hại” đó.

Nhưng thật sự thì nguyên nhân chính lại nằm ở góc nhìn khác. Những người cho rằng loại cây này là bất hợp pháp thì lại không thể đưa ra bằng chứng bất cứ bằng chứng mà lại dựa vào những thông tin được cung cấp bởi những nguồn tin không rõ ràng để lừa lọc các nhà lập pháp. Ở dưới đây bạn sẽ thấy được bất cứ cuộc bầu cử liên bang nào nhắm đến việc cấm cần sa đều hoàn toàn dựa vào những thông tin và sự quyết định của Hội Thượng viện Hoa Kỳ:

Bạn sẽ thấy rằng trong lịch sử những lí do cấm cần sa bao gồm:
– Phân biệt chủng tộc.
– Nỗi sợ hãi.
– Sự bảo vệ lợi tức.
– Báo lá cải.
– Không đủ trình độ và sự mục nát của cơ quan lập pháp.
– Sự tiến bộ sự nghiệp cá nhân và sự tham lam.

Đây là những nguyên chính giải thích cho câu hỏi bấy lâu nay của chúng ta: “Tại sao nó lại bị cấm?”

Lịch sử

Hầu hết trong lịch sử loài người, cần sa hoàn toàn được hợp pháp hoá và sử dụng rộng rãi. Nó không phải chỉ là một loại thực vậy mới được phát hiện, sự thật là nó đã được hợp pháp hoá từ rất lâu. Khoảng thời gian cần sa bị cấm và việc sử dụng nó trở nên bất hợp pháp chỉ bằng 1% nếu đem so sánh với thời gian mà cần sa đã gắn bó với cuộc sống con người chúng ta. Tác dụng của nó được biết đến từ hơn 7000 năm trước Công nguyên và chỉ mới bị cấm khi Ronald Reagan (Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ) còn là một cậu bé.

Cây gai dầu (hemp), dĩ nhiên, có rất nhiều công dụng. Vải dệt đầu tiên của con người được làm từ cây gai dầu, và qua nhiều thế kỉ nó được dùng làm thức ăn, nhang, vải vóc làm quần áo, dây thừng và hiển nhiên là còn nhiều hơn thế nữa. Những công dụng này đã làm dư luận xôn xao hỗn độn khi nó được giới thiệu ở Hoa Kỳ, vì cần sa được biết đến rộng rãi vào những thập niên 60 của thế kỉ 19, nhưng lại không được biết đến như là một loại thuốc mang tính chất giúp người dùng thư giãn cho đến thập niên 90.

Bộ luật về cần sa đầu tiên của Mỹ đã được ban hành tại thuộc địa Jamestown, Virginia vào năm 1619. Luật này “yêu cầu” tất cả người các hộ nông dân phải trồng cây gai dầu Ấn Độ. Đã có một vài luật bắt buộc “phải trồng” trong 200 năm tiếp theo (bạn có thể bị bắt nếu không trồng cây gai dầu trong khoảng thời gian thiếu hụt lương thực ở Virginia giữa năm 1763 và 1767), và hầu như trong những năm đó, cây gai dầu là đơn vị tiền tệ chính (bạn cũng có thể trả thuế với cây gai dầu). Cây gai dầu ở thời điểm đó là một loại cây vô cùng quan trọng và cần thiết cho vô vàn mục đích (bao gồm làm vật liệu cần thiết cho chiến tranh – dây thừng). Chính phủ đã vận động hết sức để làm tăng nông sản của cây gai dầu.

Bảng thống kê của Hoa Kỳ năm 1850 chỉ ra đã có 8.327 đồn điền cây gai dầu (tối thiểu 2,000 mẫu Anh) với mục đích sản xuất ra vải vóc để làm quần áo, vải bạt và thậm chí là dây thừng chão làm bông baling.

Sự kết nối với Mexico

Trong đầu những năm 1890, các bang miền Tây bùng nổ phong trào chống đối sự di cư của những người mang hai dòng máu Tây Ban Nha và Mỹ tràn vào. Cuộc cách mạng ở Mexico vào năm 1910, hàng ngàn người tràn qua biên giới, nổ ra cuộc chiến tranh giữa đội quân của Đại tướng Pershing và đội quân cướp bóc của Pancho Villa. Về sau, xung đột diễn ra giữa những người nông dân nghèo với những chủ đồn điền nông trại lớn thuê công nhân người Mexico với giá rẻ. Tiếp theo đó, sự xung đột tăng mạnh khi công việc và phúc lợi xã hội trở nên khan hiếm.

Trong thời gian này có rất nhiều người Mexico hút cần sa và đã mang hạt giống của loại cây này bên người, và nhờ điều này nên luật lệ về cần sa của bang California đầu tiên mới được ban hành, đó là cấm “sự chuẩn bị cây gai dầu hay cần sa”.

Tuy nhiên, một trong những bộ luật đầu tiên về cần sa có thể đã bị tác động, không chỉ bởi người Tây Ban Nha sử dụng nó, mà kì lạ là, bởi vì những người giáo phái Mormons đã sử dụng chúng. Họ đi qua Mexico và mang theo cần sa quay trở lại thành phố Salt Lake cùng với họ vào những năm 1910. Sự phản ứng gay gắt của nhà thờ có lẽ đã thêm vào lí do để lập ra luật về cần sa.

Các bang khác nhanh chóng theo bước California và hưởng ứng luật cấm cần sa bao gồm có: Wyoming (1915), Texas (1919), Iowa (1923), Nevada (1923), Oregon (1923), Washing (1923), Arkansas (1923) và Nebraska (1927). Mục đích của những luật này khi được lập ra là để chống đối những người có mang hai dòng máu Tây Ban Nha – Mỹ.

Khi Montana ban lệnh cấm cần sa vào năm 1927, tờ Butte Montana Standard đã trích lời từ một nhà lập pháp: “Khi những công nhân hít những thứ này thì… hắn ta sẽ nghĩ hắn mới được bầu cử làm tổng thống của Mexico, và lúc đó chúng sẽ bắt đầu loại bỏ những đối thủ chính trị của chúng”. Ở Texas, tại Thượng viện Hoa Kỳ, một thượng nghị sĩ đã nói: “Tất cả người Mễ đều điên, và cái thứ này [cần sa] là thứ mà làm cho chúng điên”.

Nghệ sĩ nhạc Jazz và Những sát thủ

Ở những bang miền Đông Hoa Kỳ, cái “nguyên nhân” được thêm vào để các nhà lập pháp soạn thảo ra một bộ luật cấm cần sa là sự kết hợp giữa những người Mỹ mang dòng máu Latin và nghệ sĩ nhạc Jazz da màu. Cần sa và nhạc Jazz đi từ New Orleans đến Chicago, và sau đó là Harlem, nơi mà cần sa là một thứ không thể thiếu đối với ngành âm nhạc, kể cả ngôn ngữ của những bài hit được sáng tác bởi người da màu trong thời đó (“Muggles” của Louis Armstrong, “That Funny Reefer Man” của Cab Calloway và “Viper’s Drag” của Fats Waller).

Lại nữa, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là một tác nhân chịu trách nhiệm một phần không nhỏ cho các bản cáo trạng chống đối cần sa, như những tờ báo vào năm 1934 đã nói: “Cần sa đã thúc đẩy dân da đen nhìn vào mắt của người da trắng, tiếp bước theo bóng của người da trắng và nhìn vào phụ nữ da trắng 2 lần”.

Hai yếu tố gây sợ hãi khác bắt đầu lan rộng ra: thứ nhất, đó là người Mexico, da màu và những người ngoại quốc khác đã dụ dỗ trẻ em da trắng hút cần sa; và thứ hai là câu chuyện về “những tên sát thủ”. Phiên bản đầu tiên của câu chuyện là do Marco Polo đã kể về “những tên ăn hasheesh” hay hashashin (nhựa cây cần sa), và từ đó suy ra thuật ngữ “sát thủ”. Trong câu chuyện gốc, những tên sát thủ chuyên nghiệp này bị chuốc lấy liều lượng lớn nhựa cần sa và được đưa đến vườn của chủ nhân (để cho họ được tận hưởng một thiên đường thoáng qua nếu họ làm thành công nhiệm vụ được giao). Sau khi tác dụng của nhựa cây hết thì tên sát thủ sẽ hoàn thành mọi mong muốn của chủ nhân với lòng trung thành tuyệt đối.

Đến những năm 30 thì câu chuyện lại bị biến tấu méo mó đi. Bác sĩ A. E. Fossier đã viết trong nhật ký Y học và Phẫu thuật New Orleans vào năm 1931 như sau: “Dưới sự ảnh hưởng của nhựa cần sa,những tên cuồng ấy sẽ bay tới kẻ thù của chúng và thô bạo xé nát từng người trong tầm tay của chúng”. Chỉ trong thời gian ngắn ngủi, cần sa bắt đầu bị xem như là chất gây ra những hành vi bạo lực của con người.

Lệnh cấm rượu và những bước tiếp cận của Liên bang đến lệnh cấm cần sa

Trong khoảng thời gian này, Hoa Kỳ đã phải đối đầu với lệnh cấm rượu, tồn tại từ năm 1919 đến năm 1933. Lệnh cấm rượu đã được dư luận vô cùng quan tâm và được tranh luận dữ dội ở mọi cấp độ, trong khi luật cấm ma tuý được thông qua và dư luận không mấy quan tâm. Lệnh cấm rượu toàn quốc được tạo ra qua sự cải tạo của bộ máy hiến pháp.

Trước đó (1914), thuế Harrison được thông qua. Nội dung của nó bao gồm phạt thuế liên bang cho thuốc á phiện và cocaine.

Sự tiếp cận của Liên bang rất quan trọng. Trong thời gian đó, chính phủ liên bang được coi là không có quyền lực để cấm rượu hay ma tuý. Chính vì điều này mà lệnh cấm rượu cần một sự cải cách hiến pháp.

Tại thời điểm đó, trong lịch sự của nước Mỹ, pháp luật thường xuyên được chỉnh sửa cải cách thứ 10 trong con đường của Quốc hội quy định của “địa phương”, và quy định trực tiếp về việc thực tập y học đã được coi là trên tầm kiểm soát của Quốc hội dưới điều khoản thương mại (từ đó, cả hai quy định đã bị suy yếu dần cho đến khi chúng hoàn toàn biến mất và trở nên vô nghĩa).

Vì ma tuý không thể bị cấm ở mức độ liên bang, quyết định đã được đề ra để sử dụng thuế liên bang như một công cụ để hạn chế. Trong thuế Harrison, mức độ á phiện và cocaine cho phép sử dụng đã bị đánh thuế (giả sử như là số tiền lợi tức mà chính phủ liên bang cần, thì nó là cách duy nhất để cầm cự trong toà án), và đối với những người không tuân theo luật thì bản thân họ sẽ gặp một số rắc rỗi với Cục Thuế.

Vào năm 1930, một sự phân bổ mới ở Cục Thuế được tiến hành – Văn phòng liên bang về ma tuý – và Harry J. Anslinger được bổ nhiệm làm quản lý. Sự kiện này đã đánh dấu sự khởi đầu của cuộc chiến toàn lực chống cần sa.

Harry J. Anslinger

Anslinger là một con người cực kỳ tràn đầy tham vọng, và ông ta đã nhận ra Văn phòng liên bang về ma tuý là một cơ hội tuyệt vời cho sự nghiệp của mình – một cơ quan chính phủ với cơ hội để định rõ vấn đề lẫn phương pháp giải quyết. Harry nhận ra ngay rằng á phiện và cocaine không đủ để giúp ông ta tạo nên cơ quan của mình, cho nên ông ta đã bám vào cần sa và bắt tay vào nghĩ kế để biến nó thành một chất cấm bất hợp pháp ở mức độ liên bang.

Anslinger ngay lập tức tô vẽ ra câu chuyện về phân biệt chủng tộc và bạo lực để thu hút sự chú ý của toàn quốc đến vấn đề ông ta muốn tạo ra. Ông ta còn quảng bá và thường xuyên đọc từ “Gore Files”,một loạt hồ sơ khai thác những câu chuyện về những con người bình thường khi sử dụng cần sa sẽ trở thành những tên giết người bằng rìu điên dại, nghiện tình dục và… người da màu cũng trong những tập hồ sơ này. Dưới đây là một trong những đoạn trích được biết đến rộng rãi từ Anslinger và loạt hồ sơ của ông ta:

“Có hơn 100,000 người hút cần sa ở Mỹ, và hầu hết là dân da đen, người Mễ, người Philippine và dân nghệ sĩ. Thứ nhạc thờ quỷ Satan, nhạc Jazz và nhạc Swing của chúng đều là do sử dụng cần sa mà ra. Chính cần sa là thứ khiến phụ nữ da trắng tìm kiếm sự dục vọng ở người da đen, nghệ sĩ và tất cả những người khác”.
“… Nguyên nhân chính dẫn đến việc cấm cần sa là do sự ảnh hưởng của nó làm suy đồi cả chủng tộc”.
“Cần sa là một thứ gây nghiện và nó sẽ làm cho người sử dụng điên loạn, dẫn đến phạm tội và cuối cùng là cái chết”.
“Cần sa làm cho dân da đen nghĩ rằng chúng cũng tốt đẹp như những người da trằng”.
“Cần sa dẫn đến chủ nghĩa bình định (một chủ nghĩa tin rằng bạo lực, kể cả chiến tranh, là không thể chấp nhận được với tất cả lí do và tranh chấp phải được giải quyết bằng hòa bình) và hành động tẩy não của cộng sản”.
“Bạn hút một điếu và điều tiếp theo là bạn sẽ giết anh/em trai của mình”.
“Cần sa là thứ gây ra bạo lực nhất trong lịch sử của con người”.

Và ông ta rất thích ba hoa tô vẽ phiên bản về câu chuyện “sát thủ” (đã nói ở mục trên) của riêng mình:
“Vào năm 1090, ở Persia người ta tìm thấy những giai cấp có liên quan đến tôn giáo và quân sự của nhóm Sát thủ. Lịch sử của nó tràn ngập những phi vụ giết người tàn ác, vô nhân tính. Nguyên nhân là do: Những thành viên trong nhóm này đã được xác định là đã sử dụng và nghiện nhựa cần sa và nhựa cần sa, bắt nguồn rừ từ ‘asssassin’ và từ ‘hashsashin’ của người Ả rập”.

Báo lá cải

Harry Anslinger có được một vài sự hỗ trợ từ William Randolf Hearst, chủ của một tờ báoo lớn. Hearst có rất nhiều lí do để giúp Anslinger. Thứ nhất, William vô cùng căm ghét người Mexico. Thứ hai, hắn đã đầu tư rất nhiều vào ngành công nghiệp gỗ để hỗ trợ cho chuỗi xưởng in của của mình và không muốn cạnh tranh với ngành làm giấy từ câu gai dầu. Thứ ba, hắn ta đã mất 800,000 mẫu Anh rừng vào tay Pancho Villa, cho nên hắn lại càng thêm căm ghét người Mexico. Thứ tư, bịa đặt những câu chuyện về người Mexico và việc cái thứ cây cần sa chết người của quỷ kia đang tiêm nhiễm bạo lực vào con người sẽ làm cho báo của hắn ta bán chạy, suy ra hắn sẽ giàu sụ.

Dưới đây là một số câu chuyện được trích ra từ tờ San Francisco Examiner:

“Cần sa làm cho những chàng trai trẻ biến thành những con thú dại – Nhựa cần sa (Hashish) kích thích người dùng biến thành những con quỷ khát máu”.
“Những thứ này (cần sa) đang tràn ngập vào đất nước này với số lượng cả tấn – những thứ chất độc ghê tởm không chỉ xé nát và tra tấn cơ thể, mà còn làm tổn thương cả tâm hồn và trái tim từng nạn nhân của nó. Cần sa là con đường tắt đến viện tâm thần. Chỉ cần hút cần sa một tháng và não của bạn sẽ không còn gì ngoài một nhà kho chứa những điều kinh khủng, sợ hãi. Nhựa cần sa có thể làm cho một người đàn ông tử tế đàng hoàng trở thành một con quỷ đam mê giết người…”.

Và những mục trong các tờ báo trên toàn quốc…

“Những người dùng cần sa sẽ trở nên bị KÍCH THÍCH khi họ hít khói vào và sẽ LÀM BẤT CỨ THỨ GÌ NGUY HIỂM. Hầu hết các loại tội phạm liên quan đến bạo lực, đặc biệt là ở các quận trong thành phố là do sử dụng cần sa”.
“Liệu có phải là do cần sa, loại thuốc mới của người Mexico, đã làm cho Clara Phillips “đập” hết sự sống của nạn nhân cô ta tại Los Angeles? 3/4 TỘI PHẠM VỀ BẠO LỰC ở đất nước này đều được gây ra bởi các con nô lệ của
Hearst và Anslinger sau đó nhận sự hỗ trợ từ công ty hoá học Dupont hỗ trợ cũng như vô vàn công ty dược phẩm khác trong nỗ lực đấu tranh bài trừ cần sa. Dupont đã được cấp bằng sáng chế nylon, và muốn loại bỏ đối thủ của mình là cây gai dầu. Các công ty dược phẩm không thể xác định đẻ tiêu chuẩn hoá liều lượng cần sa ở một mức nào đó, và hơn nữa, với cần sa, người dân có thể tự trồng thuốc mà không cần phải đi mua nó từ các công ty dược phẩm lớn.

Các giai đoạn này đều là nền tảng cho…Thuế cần sa năm 1937.

Sau hai năm ấp ủ kế hoạch của mình, Anslinger mang kế hoạch của mình đến Quốc Hội Mỹ – kèm theo một quyển sổ chứa đầy những bài xã luận giật gân của Hearst, những câu chuyện về những tên giết người bằng rìu và gièm pha tất cả các chủng tộc, và tất cả đều là do hút cần sa.

Đó quả là một bài diễn văn tuy ngắn nhưng “xuất sắc”.

Nhưng luôn luôn sẽ có một con sâu làm rầu nồi canh. Và “con sâu” làm rầu nồi canh của Anslinger chính là sự hiện diện của bác sĩ William.C. Woodward, chủ tịch hội đồng lập pháp của Hiệp hội y học Mỹ.

Woodward bắt đầu đả kích Harry Anslinger và Cục chống cần sa vì đã xuyên tạc ý nghí những tuyên bố trước đây của Hiệp hội y học Mỹ khi họ tuyên bố rằng cần sa không phải là chất làm cho con người trở nên bạo lực và Anslinger đã làm cho những giả thuyết của ông ta trông như được Hiệp hội y học Mỹ chứng thực.

Woodward còn khiển trách cơ quan lập pháp lẫn Cục chống cần sa vì đã sử dụng điều khoản về cần sa trong sách luật mà không công khai cho công chúng biết. Tại thời điểm này, marijuana (cần sa) là một từ giật gân được dùng để ám chỉ người Mexico hút loại thuốc này và không được biết đến rằng nó cũng tồn tại dưới dạng cây cần sa/cây gai dầu. Với lại, những người có những lí do chính đáng để chống đối điều khoản này cũng không hề biết điều trên.

Woodward tiếp tục tuyên bố rằng Hiệp hội y học Mỹ đã phản đối những điều khoản về cần sa trong sách luật và sẽ điều tra sâu hơn về bài diễn văn của Anslinger, tiến bước gần hơn đến việc buộc tội hành vi sai trái của Anslinger và Uỷ ban:

“Nếu như nói những người nghiện cần sa có nhân cách suy đồi thì có lẽ không ai sẽ từ chối cả. Tất cả các báo chí đã kêu gọi người dân chú ý đến nó nên [họ] phải có những nền tảng cho giả thuyết của mình [kể cả Woodward cũng một phần tin vào lời tuyên truyền của Hearst]. Nó đã làm cho tôi bất ngờ, rằng những thông tin này không được trình đến uỷ ban với những bằng chứng thiết thực. Chúng ta đang nói đến giới báo chí truyền thông đã truyền tải đi những thông tin sai sự thật về những người sử dụng cần sa. Chúng ta được bảo rằng cần sa sản sinh nên những con người xấu xa.

Tuy nhiên cục Tội phạm không thống kê được số tù nhân bị nghiện cần sa. Điều tra cho thấy rằng cục Tội phạm không hề có bằng chứng.

Bạn được kể rằng những đứa trẻ ở độ tuổi cắp sách đến trường là những đối tượng thường hay sử dụng cần sa. Nhưng không hề có đứa trẻ nào được triệu tập đến cục Trẻ em để điều tra kĩ lưỡng hơn về lối sống và mức độ sử dụng cần sa của những em này.

Điều tra của cục Trẻ em cho thấy rằng họ không hề đi tìm hiểu lẫn không biết gì về việc trẻ em sử dụng cần sa.
Báo cáo thống kê của Bộ giáo dục – nơi mà công việc cử họ đòi hỏi phải quan tâm về thói quen của những trẻ em độ tuổi đi học trong đất nước này, nếu như chúng có hút cần sa – lại chỉ ra rằng họ cũng không hề biết hay tìm hiểu về việc trên.

Hơn thế nữa, Cục thuế, Bộ Y tế, và bộ phận Sức khoẻ về mặt tâm thần mà ngay từ đầu tiên thành lập đã lấy tên là bộ phận Cần sa và chỉ mới đổi tên thành bộ phận Sức khoẻ về mặt tâm thần vào những năm 1930. Bộ phận ấy đã nắm quyền kiểm soát tất cả các nông trại cần sa vào những năm 1929 – 1930 và bắt đầu hoạt động vài năm sau. Vậy mà tại thời điểm đó, không ai được triệu hồi để thu thập bằng chứng nào cả?!!

Các thống kê được điều tra bởi chính bản thân tôi chỉ ra rằng họ không hề có hồ sơ dữ liệu nào về những người đã từng làm việc trong nông trại cần sa ấy là những con nghiện cần sa.

Bộ Y tế còn có một bộ phận chuyên về dược vật học. Nếu bạn muốn có những bằng chứng liên quan đến cần sa, nơi ấy dĩ nhiên là nơi để bạn lấy bằng chứng một cách chính xác hơn là những tin đồn”.

Các thành viên uỷ ban sau đó liền tiến hành các hành động nhằm tấn công phản pháo lại bác sĩ Woodward cũng như thắc mắc về động cơ của ông trong việc chống đối ban hành ra luật lệ. Ngay cả Chủ tịch hội đồng cũng tham gia:

Chủ tịch: Nếu ông muốn khuyên nhủ chúng tôi về luật pháp, ông nên có những đề xuất có ích hơn là chỉ trích, hơn là cản trở phá đám con đường mà chính phủ liên bang đang cố xây dựng. Đây không phải là một động cơ ích kỷ mà là một trách nhiệm vô cùng lớn mà họ đang gánh vác trên lưng.

Bác sĩ Woodward: Chúng tôi không thể nào hiểu được thưa ngài Chủ tịch, rằng vì sao điều khoản này lại được chuẩn bị một cách bí mật trong vòng 2 năm mà không hề có một báo cáo nào, kể cả một lời tuyên bố, rằng nó đã và đang được chuẩn bị.

Sau khi vòng vo…

Chủ tịch: Tôi muốn đọc một đoạn trích từ ngày xuất bản gần đây của tờ Washington Times:
Cần sa là một trong những loại thuốc quỷ quyệt nhất mọi thời đại, phần lớn là do sự thiếu hiểu biết của dân chúng về tác hại của nó.

Cả quốc gia đều yếu thế trướcin nó, không hề có một luật liên bang nào để đối đầu với nó và hầu như không có tổ chức chiến dịch nào để chiến đấu với nó.

Cái kết cục thì rất là bi kịch.

Những trẻ em tiểu học là nạn nhân của những tên bán rong, chúng đã đầu độc cả một thế hệ.

Nam sinh nữ sinh trung học phổ thông đã mua những loại thuốc nguy hiểm này mà không biết tác hại của nó, và những tên buôn vô lương tâm đã bán chúng mà không thấy cắn rứt.

Đây là một vấn đề mang tính quốc gia, và nó cần sự quan tâm từ mọi phía.

Cần sa phải được xem như là một loại thuốc vô cùng độc hại, và toàn trẻ em Mỹ phải được bảo vệ khỏi chúng.
Đó chỉ là một số cáo trạng về cần sa thôi. Họ nói nó là cả một vấn đề mang tính quốc gia và nó cần phải có luật ngăn cấm một cách hiệu quả. Dĩ nhiên, nói chung, ông đã trả lời hết cho những lời tuyên bố này rồi; nhưng chúng chỉ ra khá rõ ràng rằng chỉ có một sự đe doạ nguy hiểm cực lớn như vậy mới được giới báo chí biết đến.

Và thế đấy. Báo lá cải đã thắng khoa học.

Ủy ban đã thông qua luật cấm cần sa. Và bên trong hội đồng, toàn bộ cuộc bàn luận là:
Các thành viên từ phía bắc New York: “Thưa ngài Viện trưởng, điều luật này là gì vậy?”

Viện trưởng Rayburn: “Tôi không biết. Nó liên quan đến một thứ gọi là cần sa. Tôi nghĩ nó giống như là một dạng ma tuý”.

“Ngài Viện trưởng, hiệp hội Y học Mỹ có ủng hộ điều luật này không?”

Những thành viên hội đồng nhảy dựng lên và nói: “Bác sĩ Wentworth của họ đã xuống đây. Họ ủng hộ luật này 100%”.

Và dựa trên tất cả những sự dối trá đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 1937, cần sa bị cấm ở mức độ liên bang.

Bao phủ trang đầu của tờ New York Times: “Tổng thống Roosevelt đã kí sắc lệnh ngăn cấm ma tuý, cần sa, và sẽ bị phạt thuế nặng nếu bạn giao dịch chúng”.

Bài số 4: Video Clip do Bảo Gia gửi
https://www.youtube.com/watch?v=Rytk01B340k

 

 

Tổng hợp: Grower Việt

Search